Skip to content Skip to navigation

Chúc các em sinh viên có một kỳ nghỉ hè vui vẻ, bổ ích và an toàn!

Giới thiệu chung

Lời mở đầu

Biển, đảo luôn có ý nghĩa quan trọng đối với mọi quốc gia, bởi biển có vai trò chiến lược cả về kinh tế lẫn quốc phòng…

Vấn đề biển, đảo luôn có ý nghĩa quan trọng đối với mọi quốc gia, bởi biển có vai trò chiến lược cả về kinh tế lẫn quốc phòng. Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến vấn đề biển, đảo. Người đã từng nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay, ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Nhận thức được tầm quan trọng của biển nên Bác Hồ đã sớm định hình tư duy hướng biển và việc bảo vệ chủ quyền biên giới biển, đảo.

Hình ảnh Bác Hồ hướng dẫn các vị khách nước ngoài
thăm vùng biển nước ta (ngày 22/1/1962)

Thấm nhuần lời dạy của Bác, Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đã xác định các quan điểm về định hướng phát triển Chiến lược biển của đất nước, với một trong những nội dung cơ bản như sau: “… nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn…”.

Ngành hàng hải Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế biển

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chiến lược biển của Đảng, Khoa Máy tàu biển – Trường Đại học Hàng hải Việt Nam hơn 60 năm qua đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật ngành hàng hải, phục vụ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng Chủ nghĩa Xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.
Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử của dân tộc (giai đoạn xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giải phóng dân tộc ở Miền Nam; trong những năm cả nước xây dựng Chủ nghĩa Xã hội; đất nước bước vào thời kỳ đổi mới…), các chặng đường xây dựng và trưởng thành của Khoa Máy tàu biển luôn gắn liền với quá trình phát triển của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam và ngành hàng hải đất nước.

 

Khoa Máy tàu biển Trường Đại học Hàng hải Việt Nam – Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật hàng hải quốc gia trong lĩnh vực máy tàu thủy và tự động công nghiệp.

1. Địa chỉ:

Nhà A3, Số 484 Lạch Tray, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng
                Điện thoại :  +84.225.3829244
                Fax           :  +84.225.3728168
Email: khoamaytaubien@vimaru.edu.vn
Website: http://mtb.vimaru.edu.vn

2. Tiềm lực của Khoa
Tiềm lực về nguồn nhân lực khoa học
Với tổng số 84 cán bộ, giảng viên, các nhà khoa học đầu ngành đang trực tiếp công tác tại Khoa (tính đến tháng 8/2017), trong đó phó giáo sư: 06; tiến sỹ, tiến sỹ khoa học: 15; thạc sỹ: 57; nghiên cứu sinh: 20; máy trưởng: 25, Khoa Máy tàu biển hiện đang phụ trách 03 chuyên ngành đào tạo đại học, phụ trách và tham gia 02 chuyên ngành đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ cùng các loại hình đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ hàng hải khác. Quy mô đào tạo với tổng số 1800 ~ 2000 sinh viên, học viên các hệ.
Tiềm lực về đào tạo, huấn luyện và nghiên cứu khoa học
Khoa Máy tàu biển là trung tâm đào tạo, huấn luyện hàng đầu đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật phục vụ cho ngành hàng hải đất nước.
Khoa có nhiều hệ lớp, chương trình đào tạo, bồi dưỡng huấn luyện khác nhau: đào tạo các hệ đại học chính quy, vừa làm vừa học, liên thông, cao đẳng với 03 chuyên ngành: Khai thác máy tàu biển, Máy tàu thủy, Máy và Tự động công nghiệp. Ngoài ra, Khoa c̣òn giảng dạy một số môn chuyên môn cho các ngành: Hàng hải, Công trình, Cơ khí, Đóng tàu, Kỹ thuật Môi trường…;
Chịu trách nhiệm đào tạo đội ngũ khoa học thuộc các chuyên ngành Khai thác, bảo trì tàu thủy; Máy và thiết bị tàu thủy các hệ đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ;
Tổ chức huấn luyện các khóa nghiệp vụ hàng hải: Máy trưởng, Sỹ quan máy mức trách nhiệm quản lý, Sỹ quan máy mức vận hành, các khóa huấn luyện nâng cao kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, các lớp đào tạo cấp chứng chỉ chuyên môn theo yêu cầu của Tổ chức Hàng hải quốc tế IMO và các khóa huấn luyện ngắn hạn khác;
Gắn kết giữa công tác đào tạo với các hoạt động thực tiễn: Điều động có thời hạn cán bộ, giảng viên đảm nhiệm các chức danh sỹ quan trên đội tàu biển trong nước và quốc tế; tham gia công tác lao động sản xuất tại các nhà máy, xí nghiệp…;
Thực hiện chức năng của một đơn vị nghiên cứu thông qua các hoạt động khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, hàng năm Khoa triển khai khoảng 25~30 đề tài, dự án khoa học các loại.
Tiềm lực về cơ sở vật chất kỹ thuật
Khoa được giao quản lý nhà A3 với các phòng làm việc của lãnh đạo Khoa và các bộ môn, các phòng học, phòng thực hành - thí nghiệm:
- 16 phòng học tại nhà A3 cùng nhiều phòng học bố trí tại các giảng đường 9 tầng C1 và C2. Các phòng học đều được trang bị máy chiếu, điều hòa tiện nghi;
- 01 trung tâm nghiên cứu chuyên sâu về hệ động lực tàu thủy được trang bị các thiết bị đo đạc, phân tích hiện đại phục vụ cho công tác huấn luyện, nghiên cứu khoa học và đào tạo nghiên cứu sinh;
- Trung tâm mô phỏng hệ động lực tàu thủy, mô phỏng nồi hơi, tua bin hơi;
- 14 phòng thực hành, thí nghiệm với đầy đủ các thiết bị tiên tiến đáp ứng yêu cầu tiếp cận thực tế của sinh viên, học viên;
- Sinh viên chuyên ngành Khai thác máy tàu biển được bố trí thực tập chuyên môn tại tàu huấn luyện Sao Biển của Nhà trường;
- Các sinh viên chuyên ngành Khai thác máy tàu biển trong 2 năm đầu của khóa học được bố trí ăn ở, rèn luyện tại khu ký túc xá khang trang của Nhà trường.


Ngành nghề và các hình thức đào tạo
a. Ngành nghề đào tạo
Đào tạo các cán bộ kỹ thuật, các nhà khoa học thuộc lĩnh vực khai thác, bảo trì tàu thủy; thiết kế và lắp đặt hệ thống động lực tàu thủy; ứng dụng kỹ thuật thủy khí trong điều khiển tự động.
b. Hình thức đào tạo
- Loại hình đào tạo chính quy cho các hệ: cao đẳng, đại học, liên thông và sau đại học;
- Loại hình đào tạo vừa làm vừa học cho hệ đại học.
c. Các hệ đào tạo
Đại học:
- Kỹ sư Khai thác máy tàu biển hệ chính quy 4 năm;
- Kỹ sư Máy tàu thủy hệ chính quy 4 năm;
- Kỹ sư Máy và Tự động công nghiệp hệ chính quy 4 năm;
(từ năm 2017, thời gian đào tạo hệ đại học chính quy rút ngắn còn 4 năm)
- Kỹ sư Khai thác máy tàu biển hệ vừa làm vừa học 5 năm;
- Kỹ sư Máy tàu thủy hệ vừa làm vừa học 5 năm.
Cao đẳng:
- Cử nhân Khai thác máy tàu biển hệ chính quy 3 năm
Liên thông:
Hiện tại, hệ liên thông mới chỉ được tổ chức đào tạo ở hai chuyên ngành Khai thác máy tàu biển, và Máy tàu thủy gồm:
- Liên thông từ cao đẳng chính quy lên đại học chính quy 2 năm;
- Liên thông từ cao đẳng nghề lên đại học chính quy 2.5 năm;
- Liên thông từ trung cấp lên đại học chính quy: 3 năm
Trái ngành:
- Các lớp trái ngành Khai thác máy tàu biển.
Đào tạo sau đại học:
- Thạc sỹ chuyên ngành Khai thác, bảo trì tàu thủy hệ chính quy 2 năm;
- Thạc sỹ chuyên ngành Máy và thiết bị tàu thủy hệ chính quy 2 năm;
- Tiến sỹ chuyên ngành Khai thác, bảo trì tàu thủy hệ chính quy 4 năm;
- Tiến sỹ chuyên ngành Máy và thiết bị tàu thủy hệ chính quy 4 năm.
Các loại hình đào tạo khác:
- Các lớp huấn luyện nghiệp vụ: Quản lý buồng máy, Chứng chỉ tàu dầu, Chứng chỉ tàu hóa chất…;
- Các lớp Máy trưởng;
- Các lớp Sỹ quan máy mức trách nhiệm quản lý;
- Các lớp cập nhật nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho Máy trưởng;
- Các lớp cập nhật Sỹ quan máy mức vận hành;
- Các lớp Thợ cả;
- Các lớp Cao đẳng nâng cao 4 ~ 6 tháng (cập nhật kiến thức chuyên môn cho các sỹ quan máy tốt nghiệp hệ cao đẳng và cao đẳng nghề đủ điều kiện để học lớp Sỹ quan máy mức trách nhiệm quản lý);
- Các lớp tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên và sĩ quan, thuyền viên…
d. Các hoạt động khác:
- Liên kết với các trường đại học và học viện trong nước và quốc tế, các nhà máy, doanh nghiệp trong lĩnh vực đào tạo, huấn luyện;
- Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nâng cao hiệu quả khai thác hệ động lực tàu thủy; thiết kế các thiết bị trong hệ động lực tàu thủy; bảo vệ môi trường…;
- Bảo trì, sửa chữa các thiết bị trong hệ thống động lực tàu thủy như: động cơ diesel, nồi hơi, tua bin tăng áp, thiết bị phụ, hệ thống tự động điều khiển hệ động lực, các hệ thống thủy lực trên tàu…;
- Bảo trì, sửa chữa các loại tua bin hơi, tua bin khí tại các nhà máy điện, dàn khoan;
- Bảo trì, sửa chữa các thiết bị và hệ thống thủy lực trên các phương tiện chuyên dụng và tại các khu công nghiệp;
- Bảo trì, sửa chữa, tư vấn lắp đặt hệ thống lạnh thực phẩm và hệ thống điều hòa không khí trên tàu thủy cũng như tại các khu công nghiệp;
- Tư vấn khai thác và bảo dưỡng các thiết bị trong hệ thống động lực tàu thủy, tại các khu công nghiệp, nhà máy điện, dàn khoan…;
- Tư vấn đóng mới tàu thủy;
- Tư vấn, thiết kế, lắp đặt hệ thống động lực tàu thủy;
- Thử tàu đóng mới…

Lãnh đạo Khoa

Thầy Nguyễn Trí Minh

Thường vụ Đảng ủy Trường
Trưởng Khoa từ tháng 8/2012 đến nay

 

Thầy Nguyễn Huy Hào

Phó trưởng Khoa từ tháng 4/2011 đến nay

 

Thầy Phạm Hữu Tân

Phó trưởng Khoa từ tháng 10/2013 đến nay

 

Thầy Nguyễn Anh Việt
Phó trưởng Khoa từ tháng 5/2015 đến nay

Lãnh đạo Khoa qua các thời kỳ

Thầy Nguyễn Văn Tiên
Trưởng Khoa trong những năm 1956-1962

 

Thầy Đào Văn Quang
Trưởng Khoa trong những năm 1962-1965

 

Thầy Lê My
Trưởng Khoa trong những năm 1965-1967

 

Thầy Lê Văn Ân
Trưởng Khoa trong những năm 1967-1976

 

Thầy Trần Hữu Nghị
Trưởng Khoa trong những năm 1976-1981

 

Thầy Nguyễn Văn Canh
Trưởng Khoa trong những năm 1981-1994

 

Thầy Lương Công Nhớ
Quyền Trưởng Khoa trong những năm 1994-1996 

Trưởng Khoa trong những năm 1996-2001

 

Thầy Nguyễn Đại An
Trưởng Khoa trong những năm 2001-2011

 

Thầy Khiếu Hữu Triển
Phụ trách Khoa trong những năm 2011-2012

 

Thầy Phạm Văn Đồng
Phó trưởng Khoa trong những năm 1965-1967

 

Thầy Nguyễn Văn Canh
Phó trưởng Khoa trong những năm 1967-1981

 

Thầy Đồng Quang Mạnh
Phó trưởng Khoa trong những năm 1976-2002

 

Thầy Đặng Văn Uy
Phó trưởng Khoa trong những năm 1981-1992

 

Thầy Lương Công Nhớ
Phó trưởng Khoa trong những năm 1992-1994

 

Thầy Nguyễn Đại An
Phó trưởng Khoa trong những năm 1995-2001

 

Thầy Đặng Văn Tuấn
Phó trưởng Khoa trong những năm 2000-2005

 

Thầy Khiếu Hữu Triển
Phó trưởng Khoa trong những năm 2002-2011 và 2012-2013

 

Thầy Nguyễn Văn Tuấn
Phó trưởng Khoa trong những năm 2005-2011

 

Thầy Lê Văn Điểm
Phó trưởng Khoa trong những năm 2013-2015

Chặng đường lịch sử và phát triển của Khoa Máy tàu biển – Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

Cùng với sự phát triển của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Khoa Máy tàu biển đã trải qua lịch sử hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành.
Sau năm 1954, Miền Bắc nước ta đã được hoàn toàn giải phóng, song đất nước vẫn còn bị chia cắt làm hai miền, Miền Nam vẫn còn trong ách chiếm đóng của thực dân Pháp. Khi rút khỏi Miền Bắc, thực dân Pháp mang theo toàn bộ tàu thuyền và ép buộc các công nhân kỹ thuật đi theo. Để có đội ngũ cán bộ hàng hải kịp thời phục vụ công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở Miền Nam, cuối năm 1955 tại Nhà máy nước đá nằm trên đường Cù Chính Lan, Hải Phòng đã ra đời lớp Sơ cấp Lái tàu.

Nhà máy nước đá (đường Cù Chính Lan, Hải Phòng) nơi ra đời Trường Sơ cấp Lái tàu

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 01 tháng 4 năm 1956 Trường Sơ cấp Lái tàu đã được thành lập, đây chính là tổ chức tiền thân của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam ngày nay.

Cùng với sự ra đời của Trường Sơ cấp Lái tàu, ngày 01 tháng 7 năm 1956, tại địa chỉ số 5 Bến Bính, Hải Phòng, Trường Sơ cấp Máy tàu – tiền thân của Khoa Máy tàu biển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam ngày nay được thành lập do thầy Nguyễn Văn Tiên làm Hiệu trưởng.

 

Nhà số 5 Bến Bính, Hải Phòng nơi ra đời Trường Sơ cấp Máy tàu (01/7/1956),

tiền thân của Khoa Máy tàu biển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

Đầu năm 1957, hai trường Sơ cấp Lái tàu và Sơ cấp Máy tàu được hợp nhất thành Trường Sơ cấp Hàng hải, trực thuộc Cảng Hải Phòng do thầy Kiều Công Quế làm Hiệu Trưởng, thầy Nguyễn Văn Tiên làm Trưởng ban Máy tàu. Cùng năm 1957, Nhà trường đã tổ chức đào tạo thí điểm các lớp trung cấp gồm hai ngành Lái và Máy tàu thủy hệ 7 + 2. Học viên các lớp sơ cấp và trung cấp thí điểm này sau khi tốt nghiệp đã nhanh chóng đảm nhận các chức danh sỹ quan trên tàu và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Tháng 9 năm 1959, Trường Sơ cấp Hàng hải được nâng cấp lên thành Trường Trung cấp Hàng hải hệ 7 + 2, trực thuộc Tổng cục Giao thông thủy-bộ. Trường có địa điểm tại số 8 Trần Phú, Hải Phòng gồm hai khoa Lái và Máy, thầy Lê Văn Cường được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng, thầy Nguyễn Văn Tiên làm Trưởng khoa Máy.

 

Trường Trung cấp Hàng hải tại số 8 Trần Phú, Hải Phòng

Tháng 8 năm 1963, Khoa Máy mở lớp Bổ túc viễn dương và tuyển sinh hệ trung cấp 10 + 3 và 7 + 4. Thời điểm này, Khoa Máy đào tạo hai ngành Máy sử dụng và Máy sửa chữa. Học viên sau khi tốt nghiệp, một số được giữ lại Khoa làm công tác giảng dạy, số còn lại được tổ chức phân công về công tác tại các đơn vị vận tải thủy và hải quân.

Năm 1964, giặc Mỹ nắm bom miền Bắc, khi ấy các thầy giáo và học viên của Khoa đều tình nguyện “Ba sẵn sàng” tòng quân giết giặc, trong đó có hai thầy giáo và nhiều học viên của Khoa đã lên đường nhập ngũ.
Tháng 9 năm 1964, Trường được lệnh của Bộ Giao thông vận tải phải sơ tán về vùng nông thôn. Thời điểm đó, Khoa Máy đã sơ tán đến nhiều địa điểm khác nhau: tại Thôn Đại Công (Tiên Cường – Tiên Lãng – Hải Phòng) vào tháng 9 năm 1965; ở Xã Hồng Phúc (Ninh Giang – Hải Dương) tháng 11 năm 1965 và đến tháng 2 năm 1966 Khoa lại sơ tán về Xã Quỳnh Lâm (Quỳnh Côi – Thái Bình). Tại nơi sơ tán Khoa đã tự tổ chức đời sống cho giáo viên và học viên, xây dựng trường lớp và tổ chức giảng dạy, học tập trong điều kiện khó khăn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ở địa phương nào các thầy giáo và học viên của Khoa cũng luôn nhận được sự ủng hộ về tình cảm cũng như sự giúp đỡ về vật chất của chính quyền và nhân dân địa phương.
Tháng 7 năm 1965 Khoa đã tổ chức đào tạo các lớp Sơ cấp máy Hàng giang. Các học viên sau khi tốt nghiệp đã làm việc trên các tàu lai dắt phà, tàu sông góp phần đảm bảo giao thông thông suốt cả đường sông và đường bộ trong những năm giặc Mỹ điên cuồng đánh phá ác liệt các tuyến giao thông của Miền Bắc. Điển hình trong số đó là sáu nữ thuyền viên quả cảm của tàu “Ba đảm đang” phục vụ tại bến phà Chèm trên Sông Hồng. Đến tháng 11 năm 1966, số lượng học viên của Khoa Máy đã lên tới 460 người, chủ yếu là thanh niên xung phong và các chiến sỹ trên mặt trận đảm bảo giao thông.
Tháng 7 năm 1967, Khoa Máy lại sơ tán đến Xã Kiến Quốc (Ninh Giang – Hải Dương). Với sự phát triển và lớn mạnh của mình, đầu năm 1968 Khoa Máy được tách thành hai khoa: Khoa Máy sử dụng chuyển địa điểm về Xã An Khê (Phụ Dực – Thái Bình), còn Khoa Máy sửa chữa vẫn ở lại Xã Kiến Quốc.
Tháng 11 năm 1968, nhằm tăng cường chi viện vũ khí cho chiến trường Miền Nam, Nhà trường đã được Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ tham gia chiến dịch VT5 trên biển đưa vũ khí, hàng hóa từ Hải Phòng vào Sông Gianh, để từ đó hàng theo đường bộ vượt Trường Sơn vào chiến trường. Từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 9 năm 1969, chiến dịch đã huy động được 542 lượt chuyến tàu, vận chuyển được hơn 30 nghìn tấn hàng hóa, vũ khí chi viện cho chiến trường Miền Nam. Trong chiến dịch này, nhiều thầy giáo của Khoa đã tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần vào thắng lợi giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.

Một chiếc tàu thuộc Đoàn tàu không số trên đường chở hàng

chi viện cho chiến trường miền Nam

 

Năm 1971, giặc Mỹ thất bại trên chiến trường Miền Nam và buộc phải ngừng ném bom ở Miền Bắc, Nhà trường lại trở về địa điểm cũ tại Cầu Rào (Hải Phòng) và bắt tay xây dựng lại cơ sở vật chất nhà trường. Thời gian này, ngoài nhiệm vụ đào tạo học viên hệ trung cấp chính quy, Khoa Máy còn đào tạo bốn lớp công nhân cơ giới nhằm cung cấp nguồn nhân lực phục vụ cho việc xây dựng và mở rộng Đường mòn Hồ Chí Minh.

Tháng 4 năm 1972, giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt Miền Bắc, Khoa Máy sử dụng một lần nữa lại sơ tán về Thôn Đại Công (Tiên Cường – Tiên Lãng). Đến tháng 7 năm 1972, hai khoa Máy sử dụng và Máy sửa chữa lại sáp nhập vào thành Khoa Máy.
Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết, Trường lại chuyển về Cầu Rào, cả thầy và trò cùng các đơn vị trong Trường lại ra sức sửa sang, xây dựng cơ sở vật chất nhà trường. Vào thời điểm này, ngành Máy sửa chữa của Khoa Máy lại tách ra để sáp nhập vào Phân hiệu Đại học Giao thông đường thủy.
Tháng 9 năm 1973, Bộ Giao thông vận tải quyết định tách Khoa Hàng hải (gồm ba ngành Lái, Máy và Điện) từ Phân hiệu Đại học Giao thông đường thủy sáp nhập vào Trường Hàng hải. Từ đây, Khoa Máy vừa đào tạo hệ trung cấp vừa đào tạo bậc đại học. Năm 1974, Khoa Máy được giao nhiệm vụ tổ chức các lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ để thi chức danh Máy trưởng tàu biển hạng II, III và IV.
Ngày 27 tháng 10 năm 1976, Thủ Tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 426/QĐ-TTg nâng cấp Trường Hàng hải thành Trường Đại học Hàng hải trực thuộc Bộ Giao thông vận tải. Ngày 3 tháng 7 năm 2013, Trường chính thức được đổi tên thành Trường Đại học Hàng hải Việt Nam như hiện nay.

Trường Đại học Hàng hải tại 338 Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng những năm 1980

Thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo, từ năm 1986 ngoài hệ đại học chính quy, Khoa còn đạo tạo hệ chính quy mở rộng; hệ đại học ngắn hạn (nay là hệ cao đẳng); hệ vừa làm vừa học. Từ năm 2011, được sự cho phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Khoa tổ chức đào tạo hệ liên thông chuyên ngành Khai thác máy tàu biển từ cao đẳng chính quy, cao đẳng nghề lên đại học.

Năm 2002, Khoa mở thêm chuyên ngành Kỹ thuật môi trường hệ đại học nhằm cung cấp nguồn nhân lực trong lĩnh vực tư vấn và bảo vệ môi trường thủy, các khu công nghiệp và dân cư.
Đến tháng 5 năm 2015, sau hơn mười năm xây dựng và trưởng thành, ngành Kỹ thuật môi trường chính thức tách khỏi Khoa Máy tàu biển và sáp nhập với bộ môn Hóa để thành lập Viện Môi trường. Cũng trong thời gian này, ngành Máy tàu thủy thuộc Khoa Cơ khí (tiền thân là Khoa Máy sửa chữa) đã tách ra để nhập về Khoa Máy tàu biển. Như vậy sau hơn 40 năm, Khoa Máy tàu biển lại có hai chuyên ngành đào tạo hệ đại học là Khai thác máy tàu biển và Máy tàu thủy. Bắt đầu từ năm 2016, Khoa mở thêm ngành mới (Máy và Tự động công nghiệp) hệ đại học.
Song song với công tác đào tạo đại học, từ nhiều năm nay Khoa Máy tàu biển còn tổ chức đào tạo sau đại học nhằm đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc hiện đại hóa đất nước. Từ năm 1992, Khoa tổ chức đào tạo chuyên ngành thạc sỹ “Thiết bị năng lượng” và đến năm 2004 đổi tên thành chuyên ngành “Khai thác, bảo trì tàu thủy”. Hiện nay, ngoài đào tạo trình độ thạc sỹ, Khoa còn đào tạo một chuyên ngành tiến sỹ “Khai thác, bảo trì tàu thủy” thuộc ngành Kỹ thuật Cơ khí động lực; tham gia đào tạo trình độ thạc sỹ và tiến sỹ chuyên ngành “Máy và thiết bị tàu thủy”.
Bên cạnh đó, Khoa còn tham gia đào tạo các lớp Máy trưởng, Sỹ quan quản lý máy tàu biển, Sỹ quan vận hành máy tàu biển, các lớp huấn luyện Nghiệp vụ tàu dầu, Nghiệp vụ tàu chở hóa chất, Tổ chức và quản lý buồng máy và các khóa huấn luyện ngắn hạn khác cho sỹ quan, thuyền viên.
Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển từ Trường Sơ cấp Máy tàu, đến nay là Khoa Máy tàu biển thuộc Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, Khoa đã đào tạo hàng vạn cán bộ kỹ thuật, các nhà khoa học có trình độ từ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, sỹ quan quản lý, sỹ quan vận hành, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chiến lược tiến ra biển lớn của Đảng, vì sự nghiệp phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc vùng biển và hải đảo của tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường và của Đảng ủy Khoa Máy tàu biển, tập thể cán bộ, giảng viên và sinh viên các thế hệ đã nối tiếp nhau đoàn kết, phấn đấu vươn lên trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, lao động sản xuất và các hoạt động phong trào để xây dựng nên Khoa Máy tàu biển ngày càng lớn mạnh.
Với bề dày lịch sử và truyền thống hơn 60 năm của mình, Khoa Máy tàu biển nhất định sẽ vượt qua mọi khó khăn thử thách, quyết tâm phấn đấu vươn lên cùng các đơn vị trong Nhà trường xây dựng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam trở thành trường trọng điểm quốc gia, xứng tầm khu vực và quốc tế, trở thành điểm đến tin cậy của người học.

Những thành tựu đạt được

Ghi nhận những thành tích vẻ vang của Khoa Máy tàu biển trong hơn 60 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý cho tập thể Khoa Máy tàu biển. Nhiều cán bộ, giảng viên các nhà khoa học của Khoa cũng được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại.

Trưởng thành qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, với nhiều đóng góp cho ngành Hàng hải nước nhà, Khoa Máy tàu biển đã được Đảng và Chính phủ trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

- Huân chương Lao động hạng Ba (năm 1996);
- Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 2000);
- Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 2007);
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (năm 2006);
- Bằng khen của Bộ GTVT về thành tích trong hoạt động KHCN (năm 2004);
- Bằng khen của Bộ GTVT về thành tích trong đào tạo chuyên môn (năm 2008);
- Bằng khen của Bộ GTVT (năm 2015)…
Nhiều nhà khoa học, cán bộ giảng dạy, cán bộ lãnh đạo, quản lý của Khoa cũng được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý:
- Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ;
- Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Bằng khen của Bộ Giao thông vận tải;
- Bằng khen của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hải Phòng;
- Bằng lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam;
- Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục và đào tạo;
- Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giao thông vận tải
- Huy hiệu vì thế hệ trẻ của Trung ương Đoàn;
- Chiến sỹ thi đua ngành Giáo dục, Giao thông vận tải…